Tin Tức Mới 

Nghiên cứu FPAR về chủ đề liên quan đến Giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS) và Thích ứng dựa vào kinh tế (EbA) trong quản lý rủi ro thiên tai tại tỉnh Thừa Thiên Huế

csrd

11/01/2025

Nghiên cứu FPAR về chủ đề liên quan đến Giải pháp dựa vào thiên nhiên (NbS) và Thích ứng dựa vào kinh tế (EbA) trong quản lý rủi ro thiên tai tại tỉnh Thừa Thiên Huế được nhóm nghiên cứu của trường Đại học Nông lâm Huế thực hiện từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2025. Đây là một trong những hoạt động của dự án bốn năm mang tên “Gốc rễ bền chặt, Phụ nữ quật cường – Tăng cường năng lực cho phụ nữ trong thích ứng dựa vào hệ sinh thái (EbA) nhằm phát triển kinh tế bền vững lưu vực sông Hương” do Phái đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam tài trợ và CSRD thực hiện từ năm 2024-2028.

Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm i) cung cấp thông tin sơ bộ về rủi ro thiên tai, sự tham gia của cộng đồng trong ứng phó thiên tai, các kế hoạch quản lý rủi ro thiên tai và tình trạng dễ bị tổn thương về kinh tế của cộng đồng có công việc không ổn định và phụ thuộc hoàn toàn vào tài nguyên thiên nhiên; ii) xác định vai trò tích cực của NbS và EbA trong phát triển kinh tế bền vững, bao gồm các mô hình kinh tế tuần hoàn và xanh; và iii) khám phá những kinh nghiệm và giải pháp mà cộng đồng đã áp dụng trong việc áp dụng NbS và EbA cho quản lý rủi ro thiên tai và sinh kế địa phương, đồng thời đề xuất các giải pháp phát triển sinh kế bền vững có thể dễ dàng thực hiện.

Nghiên cứu được tiến hành tại 20 xã/phường/thị trấn thuộc 6 huyện của Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế).

Các phương pháp nghiên cứu bao gồm PAR, tư duy hệ thống, phân tích giới và quan điểm thăm dò đã được áp dụng, đồng thời một số công cụ thu thập thông tin đã được sử dụng để đạt được các mục tiêu của nghiên cứu. Tổng cộng 360 người ở cấp tỉnh, 6 huyện và 20 xã được khảo sát đã tham gia vào các quá trình thảo luận, chia sẻ thông tin và đánh giá. Đặc biệt, sự tham gia của đông đảo nữ giới (chiếm 60%) đã giúp nhóm nghiên cứu học hỏi từ kinh nghiệm của phụ nữ trong quản lý rủi ro thiên tai và phát triển sinh kế bền vững tại các xã được khảo sát.

Kết quả nghiên cứu cho thấy i) Có 6 loại thiên tai là bão, lũ, hạn hán, xâm nhập mặn, dông và sạt lở đất ảnh hưởng đến tất cả các xã khảo sát, trong đó các xã vùng đầm phá là dễ bị tổn thương nhất do phải đối mặt với nhiều loại thiên tai với tần suất xảy ra tương đối cao; ii) Chính quyền phường/xã đóng vai trò quan trọng nhất trong việc ứng phó với rủi ro thiên tai xảy ra tại cộng đồng của mình. Ngoài ra, phụ nữ dễ bị tổn thương cũng đóng vai trò quan trọng trong phòng ngừa, ứng phó và phục hồi sau thiên tai. Tuy nhiên, ngân sách cho hoạt động này còn rất thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế; iii) Có sự khác biệt đáng kể về vai trò giới trong từng nhóm hoạt động sinh kế tùy thuộc vào điều kiện sinh thái và đặc điểm kinh tế xã hội của từng vùng. Các hoạt động sinh kế ở vùng đầm phá và ven biển có xu hướng đa dạng và linh hoạt hơn so với các hoạt động ở lưu vực sông Bồ; iv) Bão và lũ là hai loại thiên tai gây thiệt hại đáng kể nhất cho sinh kế.

Nghiên cứu tập trung vào việc tìm hiểu và phân tích vai trò của phụ nữ trong sinh kế hộ gia đình và quản lý rủi ro thiên tai. Nghiên cứu cũng đánh giá năng lực và kinh nghiệm của họ trong việc phát triển các giải pháp sinh kế bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Các vùng đầm phá và ven biển đặc biệt nhạy cảm với bão và lũ lụt do tiếp xúc trực tiếp với các hiện tượng khí tượng thủy văn cực đoan trong khi lưu vực sông Bồ bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi lũ lụt; v) Nuôi trồng thủy sản, trồng lúa, trồng rau và cây trồng, chăn nuôi là những hoạt động sinh kế dễ bị tổn thương nhất trước bão và lũ lụt; vi) Chính quyền địa phương đã xác định NbS và EbA là những giải pháp thiết yếu của phát triển kinh tế bền vững, kinh tế xanh và các chiến lược kinh tế tuần hoàn; vii) Nhận thức về các khái niệm mới như NbS, EbA, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn vẫn còn hạn chế và sự tham gia của phụ nữ vào các quá trình lập kế hoạch thấp hơn đáng kể so với sự tham gia của họ vào các hoạt động ứng phó thiên tai; viii) Người dân địa phương có kinh nghiệm trong việc phát triển và áp dụng một số mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu và kinh tế tuần hoàn, ví dụ: mô hình phát triển vùng bảo vệ nguồn lợi thủy sản vùng đầm phá (thị trấn Phú Đa), mô hình kinh tế xanh về sản xuất nông nghiệp bền vững tại một số xã/phường thuộc lưu vực sông Bồ và mô hình kinh tế tuần hoàn tại phường Hương Vân, xã Phong Bình.

Các giải pháp đề xuất từ ​​góc độ kỹ thuật được khuyến nghị với lãnh đạo tỉnh và phường/xã để đưa vào kế hoạch địa phương hàng năm về thích ứng với rủi ro thiên tai và phát triển sinh kế bền vững.

Tính dễ bị tổn thương về kinh tế của cộng đồng do công việc không ổn định và phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên.

Theo đó, các hoạt động được đề xuất thực hiện trong khuôn khô dự án triển khai, cụ thể như sau: i) Khôi phục và trồng lại rừng ngập mặn (Sonneratia caseolaris (L.) Engl.) tại các khu vực rừng ngập mặn hiện có và tiềm năng; ii) Cung cấp tư vấn và tổ chức các cuộc thi về mô hình NbS và EbA giữa các nhóm cộng đồng và cá nhân để lựa chọn các mô hình có thể áp dụng thành công và hiệu quả; iii) Tổ chức các cuộc thi truyền thông về quản lý rủi ro thiên tai và phát triển sinh kế bền vững dựa trên NbS và EbA, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn; iv) Tăng cường xây dựng năng lực, đặc biệt là cho phụ nữ, về quản lý rủi ro thiên tai và phát triển sinh kế bền vững bao gồm đào tạo về kỹ năng quản lý rủi ro thiên tai, đào tạo về NbS, EbA tiềm năng trong nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi và cây trồng. Ngoài ra, tổ chức các chuyến tham quan học tập các mô hình NbS và EbA thành công ở các khu vực khác; và v) Cung cấp tư vấn và phát triển các liên kết thị trường để cung cấp cho cộng đồng nhiều cơ hội hơn để quảng bá và tiếp thị các sản phẩm địa phương.

Tìm kiếm

Các dự án liên quan